The Bible-Doer Saints in Vietnam

Thông Tin về Các Nhóm Thánh Đồ Sống Theo Kinh Thánh tại VN

"But become Doers of the Word (Bible-doers who got
the Mind of the Holy Spirit thru the Revelation & Application in the Bible)
,
and not merely
hearers (audiences, church-goers),
deceiving your own selves!"
(Jas 1:22)

-- "Nhưng hãy trở nên Người Sống Theo Lời (kẻ làm theo Ý Thánh Linh
qua
sự Khải Thị và Ứng Dụng trong Kinh Thánh),
chớ đừng chỉ làm
thính giả (chỉ lấy sự đi nhóm nghe giảng)
làm đủ mà tự lừa dối mình!"
(Gia-cơ 1:22)

___________________________________________________

News - Tin Mới Nhất

Tối ngày Thứ Sáu, 17-11-2017  Trả Lời Thắc Mắc:

1. "Lòng mới" và "Thần mới" (trong Ê-xê-chien 36:26-27) là gì?
* Khi giải kinh và day đạo hãy nhớ là:
- Đừng dựa theo kiểu dịch của KT Tây hay KT Viết!
- mà chỉ nên dựa theo "các ý" trong "nguyên văn" vậy nhé!
-- Trong Ê-xê-chiên 36:26-27 chép (theo nguyên văn thi những chữ quan trọng trong câu có nghĩa như sau):
[26] Ta sẽ ban cho (=giao cho, đặt để)
  tắm lòng (=tâm trí, ý chí, trí tuệ, sự khôn ngoan, hiểu biết, tình cảm, cảm xúc, cảm giác)
  mới (=tươi)
  cho các ngươi, và đặt để (=ban cho, giao cho, dựng lên, thiết lập)
  thần (=linh, hơi thở, bầu không khí, tinh thần, sự sống, đời sống, cuộc sống, lối sống)
  mới (=tươi mới)
  trong (=trong vòng, ở chính giửa, vị trí trung tâm) các ngươi.
  Ta sẽ cất (=cất lấy, bỏ đi, rút đi, lìa bỏ, bỏ qua một bên)
  tắm lòng (=tâm trí, ý chí, trí tuệ, sự khôn ngoan, hiểu biết, tình cảm, cảm xúc, cảm giác)
  bằng đá (=cứng cỏi như đá, đã hóa ra thành đá, nặng nhề như đá; như 'nữ trang rất đẹp đầy quyến rũ', nhưng là thứ đồ 'chờ chết, đã chết' [ví "đồ không có sự sống"]!)
  ra khỏi xác thịt (=thân xác, thân thể) các ngươi,
  và ban cho (=giao cho, đặt để, dựng lên, thiết lập) trong các ngươi
  tắm lòng (=tâm trí, ý chí, trí tuệ, sự khôn ngoan, hiểu biết, tình cảm, cảm xúc, cảm giác)
  bằng thịt (=mềm mại như thịt, dễ chịu, dễ dạy, dễ thương, rất tươi mới [ví "vật đầy sức sống"]!).
[27] Ta sẽ đặt để (=ban cho, giao cho)
  Thần (=Linh, Hơi Thở, bầu không khí, Tinh Thần, Sự Sống, đời sống, cuộc sống, lối sống)
  của Ta ở trong (=trong vòng, ở chính giửa, vị trí trung tâm) các ngươi,
  và khiến (=làm, chuẩn bị, thi hành, thực hiện, hoàn thành [kế hoạch]) các ngươi
  noi theo (=đi theo, làm theo)
  luật lệ (=sự phác họa, bày vẽ ra, lễ nghi, quy định, quy chế, đạo luật, pháp lệnh) của Ta,
  thì các ngươi sẽ gìn giữ (=giữ lấy và tuân theo)
  và làm theo (=thi hành, thực hiện, hoàn thành) [Bản dịch KT tiếng Việt để chữ "và làm theo" tại cuối câu]
  mạng lịnh (=sự phán xét, phán quyết, tuyên án, bản an; sự công bằng, công lý; thái độ, cử chỉ, cách xữ sự, cư xử) của Ta.
* vậy thì, sau khi tổng hợp các ý nguyên văn nói trên --
- (a) "Lòng mới" (New Heart) có nghĩa là một "tắm lòng mới, tâm trí mới, ý chí mới, trí tuệ mới; sự khôn ngoan mới; sự hiểu biết sự; các tình cảm, cảm xúc, cảm giác mới" rất "mềm mại, dễ chịu, dễ dạy, dễ thương, tươi mới, đầy sức sống mới";
- (b) "Thần mới" (New Spirit) có nghĩa là một "linh mới, hơi thở mới, bầu không khí mới; các tinh thần mới; sự sống mới, đời sống mới, cuộc sống mới, các lối sống mới" rất "nhu mì, dễ chịu, dễ dạy, dễ thương, tươi mới, đầy sức sống mới".

2. "Con người mới" (trong 2Cô 5:17) là gì vậy?

  "Vậy, nếu ai 
  ở trong "Đấng Christ"
 (=ở trong "Đấng Được Xức Dầu", bởi "sự được xức dầu"), 
  thì nấy là "người dựng nên mới" (=vật thọ tạo tươi mới [người có trang sử mới]: người được số
 ng tươi lại [tái sanh], rất tươi mát, tươi vui); 
  những sự cũ (=những cái gốc - những quyền thế lực lượng - ban đầu)
  đã qua đi (đã bổ đi, bị loại bỏ, bị phế thải), 
  hay xem! (=thấy chưa? phải biết rằng, hay nhận thức ra) [KT tiềng Việt dịch thiếu chữ "hay xem! = thấy chưa?" này!]
  nầy mọi sự đều trở nên 
  mới (=sống tươi lại, rất tươi mát, tươi vui; tin tức mới [trang sử mới])."

"con người mới" này là "vật thọ tạo tươi mới, người có trang sử mới: người được sống tươi lại [tái sanh], rất tươi mát, tươi vui".


3. "Tôi cứ ở..." (trong Phi-lip 1:22-24) -- "Tôi" này là ai vậy?


[22] Ví thử tôi cứ sống trong xác thịt, 
  là ích lợi cho (=phải chăng tại vì)
  công (=việc làm, nỗ lực, nghề nghiệp)
  khó (=hạt giống, bông trái, con cháu, thành qua, sự sinh sản, sản xuất)
  của tôi, thì tôi chẳng biết nên lựa (=chọn, đành chịu) điều chi. 
[23] Tôi bị ép giữa hai bề muốn đi ở với Đấng Christ [về với Chúa -- chết sớm!], 
  là điều rất tốt hơn; 
[24] nhưng tôi cứ ở trong xác thịt (=vẫn sống còn 'rất khổ cực' trong cái thể xác 'dễ bị bệnh / dễ phạm tội' này), 
  ấy là sự cần hơn cho anh em."

* Phao-lô nói "Tôi cứ ở..." -- "Tôi" này là "Hồn" tôi (= "con người thật" của tôi, "con người bề trong" của tôi) 
- "vẫn phải cứ còn sống" (=cứ còn làm việc, cứ còn làm gương) 
- trong cái thân thể 'dễ bị bệnh, bị tù đày' với những thứ linh 'dễ phạm tội' trong tôi, 
- là vì là sự cần (=sự yêu cầu rất cần thiết, không thể thiếu) hơn cho anh em.


- TTM <http://thanhdovn.webs.com>.


Kinh Thánh Nguyên Văn Bản Dịch Chơi Chữ và Giải Kinh

(Soạn bởi Thầy Tuấn Mã, Timothy)

Original Word-Play Study Bible - Vietnamese Edition 

(by [email protected] / Ver. 2017.11.06-Mon.02:30) 

בְּרֵאשִׁ֖ית (B'reshit) = Khởi Đầu Ký [Sáng Thế Ký] 

= Trái Đầu Mùa Ký (Xuất 23:19; Dân 15:20-21, 18:12; 1Cô 15:23).

Chương 1

Sáng 1:1-2 (Quá Trình Sáng Tạo và Tái Tạo: Hoàn Cảnh và Tâm Cảnh)
1 Lúc ban đầu (Trái Đầu Mùa) Thượng Đế (Đấng Toàn Năng, Đấng Phán Xet) dựng nên (khai phá) các tầng trời (2 không gian, 2 chỗ ở [cho '2 thứ cha thuộc linh']) và trái đất [với 'cùng một đất mẹ'].
2 Nhưng mặt đất [ví thể xác, ý tưởng - lòng người, thế gian] [nàng] đã trở thành (là) hư vô (vô hình, hư ảo, vô ích) và lộn lạo (hỗn độn), và sự mờ tối (sự cầm giử lại [của 'sự vô tri, dốt nát'] từ ma quỉ) ở trên (tràn lên, ngự trên) nhiều mặt [trên "nhiều thứ linh" (trên "tầm trí", là phần "bên trên" của tấm lòng nàng)] vực sâu [tức "phần hồn" "phần dưới" của đáy lòng nàng]; Thần (Linh, Gió, như 'Mẹ đẻ' của chúng sinh) của Thượng Đế (Đấng Toàn Năng) vận hành (ấp ủ, ran cánh [tập cho chim ưng con biết bay]) trên [như Chim Ưng "là là, bay trên"] nhiều mặt [nhiều thứ linh = tư tưởng] của các dòng nước [trên "nhiều tấm lòng, các dòng Đạo"].

Học Chữ Mới (trong Sáng 1:1-2)


Sáng 1:1
בְּרֵאשִׁ֖ית (b'reshit) Lúc ban đầu (gt+dt cái s.ít: giới từ + danh từ cái số ít) = Trái Đầu Mùa. [Thềm mẫu từ "be-, b', בְּ" ở trước một chữ, có nghĩa là thêm một "giới từ" -- "lúc, khi..."]
1. ban đầu (רֵאשִׁית reshit) dt cái h7225 x51 
 = đầu, thủ lãnh x5, đầu tiên x18, ban đầu x19 (Sáng 1:1); -- vì chữ "ban đầu" (רֵאשִׁית reshit h7225 dt cái ra từ gốc chữ "đầu" (רֹאשׁ rosh h7218 dt đực) cho nghĩa là "đầu nguồn, dòng chính, ngả sông" [Một con sông từ Ê-đen chảy ra... chia ra làm 4 "ngả" (ví: 4 dòng đạo)] (Sáng 2:10);<br> 
 = trái đầu mùa dt cái x11 (Xuất 23:19; Dân 15:20-21, 18:12; 1Cô 15:23). -- vì chữ "ban đầu" (רֵאשִׁית reshit h7225) là dt cái ra từ gốc chữ "đầu" (רֹאשׁ rosh h7218) là dt đực, cho nên nó ấm chỉ Chúa Yêsu Kitô vừa là "Con Đầu Lòng" (dt đực) của Cha ở trên trời, vừa là "Trái Đầu Mùa" (dt cái, 1Cô 15:23) trong vòng vạn vật Cha đã dựng nên (Gia-cơ 1:18) trên mặt đất (cho nên Thiên Phụ là cái "Đầu" của Yêsu Kitô), mà "Con" đó vừa được gọi là "Cha Đời Đời" (Êsai 9:5), và "Thần Linh" (ר֫וּחַ ruach h7307 dt cái) của Yêsu Kitô cũng được ví như là 'Mẹ Đẻ' của vạn vật [được Thiên Phụ thông qua "Thần Linh" (dt cái) của Con Trời đó mà "sanh ra" (làm nên) vạn vật (Giăng 1:3), và nó cũng ấm chỉ: Dòng dõi (Hạt Giống = Con Trai) người nữ (Con Người Yêsu)... sẽ giày đạp "đầu" (רֹאשׁ rosh) rắn (Sáng 3:15);
= đứng đầu: A-ma-léc (= sự cực nhọc) "đứng đầu" (רֵאשִׁית rashit) các nước; nhưng sau cùng người sẽ bị diệt vong (Dân 24:20b)!
* [3 Loại Ban Đầu]
[1] "Ban đầu" Chúa dựng nên trời (chỗ ở) đất (xứ sở, Sáng 1:1) và vườn (công trình bảo vệ) Ê-đen (cuộc sống tự do vui mừng và hạnh phuc, Sáng 2:8).
[2] Nước con người "sơ" lập là [một nhà nước 4-liên-thành] (Sáng 10:10) -- Thành-phố-hoa cả nước, biến con người phải sống như thú dữ dưới chế độ và luật "rừng" bê-tông cốt sắt:
- 1) Ba-bên (Hỗn loạn): lũ lai căng, "đầy mâu thuẫn trong Lời và ngoài đời"...
- 2) Ê-rết (ngắn): có nghĩa ngược lại là "bị hớt long cắt cánh", cồng tay, buột chân...
- 3) A-cát (Thành trì cao lớn): lập bè đảng, tổ chức to mạnh, dùng thủ đoạn chính trị, hành chính phiền phức mà "kìm kẹp" quần chúng và giáo dân...
- 4) Ca-ne ở tại xứ Si-nê-a (có cha ngoại bang):
- ấm chỉ "bị đồng hóa”, sông theo đời, là những "dân ngu, giáo đồ, côn đồ" không có thần tánh của Chúa (Giu-đa 1:10; 2 Phi-e-rơ 2:12);
-- Con gái [giáo hội] họ rất "đẹp" [ăn mặc hỡ hang, đầy quyến rũ] (Sáng 3:15, 6:4; Dân 13:33; Khải 3:18b),
-- là con cái ma quỉ "đầy ơn tứ", "có nhiều tài nghệ", rất "hiếu thắng" và "thiện chiến” như Nim-rốt vậy, là người "bắt đầu" làm “anh hùng” trên mặt đất (Sáng 10:8) và là một “tay thợ săn can đảm” (Sáng 10:9)...
[3] "Ban đầu" có "Lời" (Con Trời Chúa Yêsu là "Tiếng Nói" [là Thần Linh và Con Người có thể nghe thấy] của Thiên Phụ [là Thần Linh không thể nhìn thấy] (Giăng 1:1).

בָּרָ֣א (bara) đã dựng nên (dt đực s.ít hth: động từ đực số ít thì hoàn thanh) = khai phá [cây rừng]
2. dựng nên (בָּרָא bara) đt đực h1254 x55 = sáng tạo x11 (Sáng 1:1), làm ra:
= lựa chọn x1, vạch ra (בָּרָא bara) [một caí "dấu"], dựng lên [một cái bạn hiệu (bàn tay) chỉ đường] (Êch 21:19); và "ăn mập" x1 (1Sa 2:29): cho ăn bồi dưỡng -- ấm chỉ Đấng Tạo Hóa cũng là "Đấng Chọn Lựa" và "Đấng Nuối Dưỡng, Cung Ứng";
= khai phá ["rừng" ví "dân tộc, nhà nước"], chặt bỏ ["cây" ví "con người"] x2 (Giô-suê 17:15): làm sạch, cắt tỉa,  tỉa bỏ (כָּרַת karat, Êsai 18:5), tỉa sửa, làm sạch (καθαίρω) [những nhánh nào kết quả, để được sai trái hơn] (Giăng 15:2) -- ấm chỉ Đấng Tạo Hóa cũng là "Đấng Khai Phá, Tỉa Sửa".

אֱלֹהִ֑ים (Elohim) Thượng Đế (dt đực s.nhiều) = các Quan an, Đấng Toàn Năng
3. Thượng Đế (אֱלֹהִ֑ים Elohim) h430 x2598 (là dt đực s.nhiều của chữ אֱל֫וֹהַּ Eloah h433 x60, ra từ gốc chữ אֵל El h410 x248) = kẻ anh hùng (Giốp 41:16), sức mạnh, Đấng Toàn Năng
= Thiên Chúa, Chúa Trời x2341 (Sáng 1:1), thần [giả] x249, nữ thần x2, thần tượng, pho tượng x10 (Sáng 31:30);
-- Vì chữ אֱלֹהִ֑ים (Elohim) cũng có 4 nghĩa (rất đặc biệt) là: bậc rất cao qúy (vĩ đại) x1, đầy sức mạnh (khả năng) x1, thánh thiện (thiêng liêng) x1, quan án x4; cho nên nó ấm chỉ "Thượng Đế" (Elohim) cũng có thể hiểu (hay xưng hô) Ngài là:
  [1] Thượng Đế Chí Cao (עֶלְיוֹן Elyon) h5945 (Sáng 14:18) = bậc rất cao quý, vị đại nhất [người xưa đôi khi cũng gọi những "Quân trưởng, Hoàng tử, Thái tử, Thiên tử, Vua chúa" là "Elohim" (dt s.nhiều), có nghĩa "là bậc tôn kính, cao quý, vĩ đại" (Sáng 23:6), "kẻ hùng mạnh" (Giốp 41:16);
  [2] Thượng Đế Toàn Năng (שַׁדַּי Shadday) h7706 (Sáng 17:1) = đầy sức mạnh, năng lực [Ra-chên nói rằng: Tôi đã "hết sức" (elohim) chống cự với chị tôi] (Sáng 30:8), "Ðấng Toàn Năng" (אֲבִ֣יר Abir, Avir h46) [của Gia-cốp] (Sáng 49:24);
  [3] Đấng Chí Thánh (קָדֹשׁ Qadosh) h6918 ["Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên" x28 trong Cựu Ước] (Sáng 17:1); "Đấng Thánh của Thượng Đế" x3 trong Tân Ước, Mác 1:24, Luca 4:34, Giăng 6:69; "Ðấng Thánh và Ðấng Công Bình" x1, Công 3:14] = rất thiên liêng, thánh thiện [Các ngươi sẽ thành... một dân tộc (nhà nước) "thánh" (קָדֹשׁ Qadosh h6918) cho Ta] (Xuất 19:6), [Chúa tìm kiếm (mong muôn có) một dòng dõi "thánh" (אֱלֹהִ֑ים Elohim) = người thánh, Thánh đồ, rất tin kính, ngoan đạo)!] (Mal 2:15);
  [4] Đấng Phán Xét (שָׁפַט Shafat) h8199 (Giốp 9:15) = các Quan Án [người xưa đôi khi cũng gọi "các vị Thẩm phán" là "Elohim" (dt s.nhiều)] (Xuất 21:6, 22:8-9; 1Sa 2:25), [Cha cũng chẳng "xét đoán" (κρίνω g2919 krino) ai hết, nhưng đã giao trọn (hết thảy) "quyền phán xét" (κρίσις g2920 krisis) cho Con] (Giăng 5:22, 27).

אֵ֥ת (et) cái (mt: mạo từ)
4. cái, một cái, những cái (אוֹת eit) mt h853 x11050

הַשָּׁמַ֖יִם (h'shamayim) các tầng trời (bn dt đực s.đôi: bổ ngữ danh từ đực số đôi = 2 không gian, 2 chỗ ở. [Thềm mẫu từ "ha-, h', הַ" ở trước một danh từ, có nghĩa là danh từ đó là một "bổ ngữ"]
5. trời, các tầng trời (שָׁמַיִם shamayim) dt đực s.đôi h8064 x421 = 2 tầng trời:
= không gian [chỗ ở], trời, bầu trời x398, các tầng trời x30 (Sáng 1:1; Phục 10:14). -- Vì chữ שָׁמַיִם (shamayim) là một danh từ đực "số đôi" [Danh từ số đôi là đuôi chữ của nó có cụm từ "-yim" יִם-], cho nên nó ấm chỉ là "Trời có 2 tầng": -- Mỗi từng trới như cái: "màng, trại" (Thi 104:2), "áo mặc" (Ê-sai 50:3), "cuốn sách" (Ê-sai 34:4); -- Trong "Nhà" Cha Ta [trên trời] có "Nhiều Chỗ Ở"; bằng chẳng vậy, Ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một "Chỗ Ở" (Giăng 14:2).
* [2 Tầng Trời - 2 Thứ Không Gián - 2 Loại Chỗ Ở]
[1] Chúa xây "nhiều chỗ ở" như "thang lầu, lầu gác, lâu đài, cung đền" của Ngài trên "các tầng trời" (A-mốt 9:6), như "lều trại" (Thi 104:2); và sẽ trở thành "chỗ ở" cho con cái của Chúa trong tương lai (Giăng 14:2)";
[2] Nhưng hiện này vẫn còn có nhiều người cứ còn vâng phục vị 'vua' [cái 'thần linh' chống Đấng Christ] cầm quyền "chốn không trung" (Êph 2:2), vua Satan [cái 'thần linh' chống Đấng Christ] vẫn còn có "chỗ ở" trên một tầng trời [không gian] nào đó, đồng thời nó vẫn còn có nhiều "địa bàn" trong nhiều "lòng người" dưới trần gian!

וְאֵ֥ת (w'et) và quả lt+mt (= אֵת et h853 x11050: và, với)
[Thềm mẫu từ "wa-, w', v', וְ" ở trước một chữ, có nghĩa là thêm một "liên từ" (lt) -- "và, với..."]

הָאָֽרֶץ׃ (h'arets) quả đất [nàng]. bn dt cái s.ít
6. đất (אֶרֶץ erets) dt cái h776 x2503 = đất đai x2074, đất nước x199, ví "thể xác, tâm địa"
vì chữ "đất" (אֶרֶץ erets) là môt dt cái, cho nên nó ấm chỉ "đất" ["tấm lòng" con người hay một "đất nước, hội thánh" ví như một "vùng đất"] như là một người 'vợ' hay 'mẹ' [đất mẹ].
= trái đất, địa cầu (הָאָֽרֶץ h'arets, Sáng 1:1),
= thiên hạ x39, thế gian x3 (đều bại hoại, Sáng 6:11-12),
= sở đất (tốt nhứt trong "xứ" Ê-díp-tô, Sáng 47:11),
= đất nước, xứ sở (Sáng 10:20), quốc gia x199 (được sanh thành bởi Chúa, Ê-sai 66:8), nhà nước ("Nước nhà" được vững bền nhờ sự công bình, nhưng ai lãnh của hối lộ hủy hoại nó! Châm 29:4); -- "nhưng đất nước" [ví thân thể, tâm địa, giáo hội] (của kẻ không tin và bất nghĩa) sẽ bị "hoang vu" (Êxê 14:16)!
-- "Đất" có 4 'hình bóng' như sau:
[1] "thể xác" [vì nó ra từ "đất sét"],
[2] "tâm địa" ["tâm hồn" ta khao khát Chúa như "vùng đất khô khan"] (Thi 143:5),
[3] "Hội Thánh" [ví như là "Vợ Mới"] (Khải 21:9) hay các "giáo hội" [ví như là 'tì thiếp'], như những "đất đai / đất nước" đã có Chủ, như những 'phụ nữ' đã có chồng (Êsai 62:4).

Sáng 1:2
וְהָאָ֗רֶץ (wah’arets) Nhưng mặt đất [nàng] lt+dt cái s.ít (= אֶרֶץ erets) h776 = đất [ví 'tâm địa (lòng người), đất nước, giáo hội']

הָיְתָ֥ה (hayetah) đã trở thành đt cái s.ít hoàn thành (= הָיָה hayah) h1961 = là, có, bị
7. là, có, trở thành (הָיָה hayah) h1961 x3561 = đi đến, xảy ra, rơi ra...
= trở thành x329, là (Sáng 1:2): vợ Lót "hóa ra" tượng muối (Sáng 19:26);
- cây gậy "biết thánh" con rắn (Xuất 4:3-4);
- nên lượm lương thực [kiếm ăn] theo Lời dặn thì ma-na mới không "có" mùi hôi, không "bị" thúi, và không "hóa" sâu (Xuất 16:20-24)!
> cùng gốc với động từ "thở (hô hấp), làm" (הָוָה hava h1944)

תֹ֙הוּ֙ (tohu) vô hình dt đực s.ít h8414 = hoang vu (Phục 32:10), hư không (như 'thần tượng', 1Sa 12:21)
8. trống không, hư không (תֹ֙הוּ֙ tohu) dt đực h8414 x20 = sự nhầm lẫn và hỗn loạn
= sự hoang vu, vắng vẻ x3 (Phục 32:10), hoang tàn x2, chốn sa mạc (Gióp 6:18),
= sự trống không [hư không] x3 (về thước thăng bằng [hư hỏng], Ê-sai 34:11b),
= sự hư không x8, hư ảo, không có ý nghĩa, sự vô ích x2 (của các thần giả, hình tượng, 1Sa 12:21).
- Thật dân Ta là ngu muội, chúng nó chẳng nhìn biết Ta. Ấy là những con cái khờ dại, không có trí khôn, khéo làm điều ác, mà không biết làm điều thiện... [lòng/nước/HT họ như] là một vùng đất đã trở thành "hoang vu và hỗn độn" (Giê 4:22-23)!

וָבֹ֔הוּ (w'bohu) và hỗn độn, lt+dt đực s.ít (= בֹּ֫הוּ bohu) h922
9. hỗn độn, vô dụng (בֹּ֫הוּ bohu) dt đực h922 x3 = bỏ trống, trống không, sự vô dụng x2
= sự hư không x1, sự hỗn độn, sự lộn lạo x1 (về dây đo lường [hư hỏng], Ê-sai 34:11b):
- Thật dân Ta là ngu muội, chúng nó chẳng nhìn biết Ta. Ấy là những con cái khờ dại, không có trí khôn, khéo làm điều ác, mà không biết làm điều thiện... [lòng/nước/HT họ như] là một vùng đất đã trở thành "hoang vu và hỗn độn" (Giê 4:22-23)!

וחשׁך (w'choshek) và sự mờ tối lt+dt đực s.ít (= חֹ֫שֶׁך choshek: tối) h2822 = sự cầm giử lại
10. tối tăm (חֹ֫שֶׁך choshek, khoshek) dt đực h2822 x80 = sự cầm giử lại
= sự mơ hồ, mờ tối [không rỏ] x2, đen tối x7, sự tối tăm x70 -- ra từ gốc đt "thành ra tối tăm" (חָשַׁך chashak, khashak) x18 h2821 = thành ra lờ mờ, âm u, không rỏ, khó hiểu -- ví 'nạn giáo phái' cào cào đã bao phủ khắp mặt đất của cả xứ, mà khiến [Đạo Chúa] trong xứ đã "thành ra tối tăm, mập mờ, khó hiểu" (חָשַׁך chashak, Xuất 10:15);
= sự dốt nát, ngu mui, không hiểu biết, khốn khổ, chết chóc [ví người chậm hiểu, đê tiện; thế giới đen tối độc ác]: Hãy dạy cho chúng tôi biết điều chúng tôi phải thưa cùng Ngài; vì tại sự "dốt nát" (חֹ֫שֶׁך choshek: tối tăm), chúng tôi chẳng biết bày lời gì với Ngài (Giốp 37:19). Nhưng Chúa thắp ngọn đèn tôi [là ngọn đèn tôi] (2Sa 22:29)... Ngài sẽ làm sự sáng cho tôi (Mic 7:8), soi sáng nơi sự "tối tăm" (חֹ֫שֶׁך choshek) của [lòng] tôi (Thi 18:28).

על־ (al-) ở trên gt h5921 = "tràn lên, ngự trên"
11. trên (על al) lt h5921 x5682 = lên, trên, ở trên, bên trên, phía trên x59, vì x131,
= dựa vào, áp vào x536, ngang qua x545: Sự mờ tối "ở trên" (= áp vào, tràn lên, ngự trên) mặt vực (Sáng 1:2).
- Liên từ "trên" (על al h5921) là cùng gốc với động từ "đi lên, trèo lên, thăng lên, bay lên" (עָלָה alah h5927): Hơi nước dưới đất "bay lên" (Sáng 2:6); Cào cào "tràn (עָלָה alah) lên (על al)" xứ đó (Xuất 10:12).

פני (peni) nhiều mặt của dt đực s.nhiều (= פָּנִים panim: mặt) h6440 = nhiều bộ mặt, nhiều ý nghĩ [là những cái linh thuộc phần "bên trên, bề mặt" của lòng người]
12. mặt, bề mặt (פני peni = פָּנִים panim) dt đực h6440 x2128
= mặt x1470, bề mặt x26, đằng trước x105, trước mặt [trước sự hiện diện] x75;
= tâm trí, ý nghĩ, ý định, mu toan, bộ mặt x4 [là 'những cái linh' (tâm thần), là những 'phần bên trên' (bề mặt) của lòng người]: Vì các ngươi có "mưu" ác -- có "ý" ác, có "bộ mặt" xấu (Xuất 10:10).
> dt "mặt" (פני peni) h6440 là cùng gốc với đt פָּנָה (panah) h6437 = trở mặt, chuyển mình, quay hướng.

תְה֑וֹם (tehom) vực sâu; dt cái s.ít h8415 [tức "phần hồn", là "phần dưới" của đáy lòng nàng]
13. vực sâu (תהום tehom) dt cái h8415 x37: sâu, vức, vực sâu x34
= dưới lòng đất, nơi vực (Đấng Toàn Năng sẽ ban phước cho con [Giô-sép], tức là phước lành ở chốn trời cao xuống, cùng phước lành ở "dưới lòng đất / nơi vực", Sáng 49:25);
 = nguồn suối, nước sâu x1 (Phục 8:7) và biển sâu x2 [đều ví là "đáy lòng", là "phần hồn"]
 - vì chữ "vực sâu" (תהום tehom) là dt giống 'cái', cho nên nó ví "phần hồn" là "phần dưới" tấm lòng của "nàng dâu" Thánh đồ, Hội thánh Dâu Mới: 
-- Thượng Đế ôi! "hồn" ["vực sâu" ví "thâm tâm, đáy lòng"] tôi mơ ước Chúa, Như con nai cái thèm khát khe nước (Thi 42:1-2); Vực [hồn của tôi] "gọi" Vực [Linh của Chúa] theo tiếng ào ào của thác nước. (Thi 42:7):
-- vì "tiếng kêu gọi của Chúa" sẽ gây ra tiếng vang "tiếng kêu cầu của tôi",
-- và "tiếng kêu cầu của tôi" sẽ gây ra tiếng vang "tiếng đáp lời của Chúa".

וְר֣וּחַ (w'ruach) Và Thần Linh của lt+dt cái s.ít (= ר֫וּחַ ruach h7307 = Linh, như 'Mẹ đẻ']
14. thần, linh (ר֫וּחַ ruach) h7307 x377 = thổi (đt ר֫וּחַ ruach h7306), gió thổi, hà hơi, đánh hơi, ngửi mùi [Yêhvah "hưởng lấy" mùi thơm] (Sáng 8:21):
 = linh x132, gió x99, lòng (tâm linh, tâm tình) x55, khí x20, hơi x13, mùi, ma x7: 
 = gió, gió mát, sự mát mẻ = lối "chiều" = "vào giờ có gió, mát mẻ trong day" (ר֣וּחַ ruach) [khi nghe tiếng Yêhvah Thượng Đế đi ngang qua vườn, A-đam và vợ ẩn mình giữa bụi cây, để tránh mặt Yêhva Thượng Đế] (Sáng 3:8)];
 = sanh khí [Ta sẽ dẫn nước lụt khắp trên mặt đất, đặng diệt tuyệt các xác thịt có "sanh khí = hơi thở" (ר֣וּחַ ruach) ở dưới trời] (Sáng 6:17, 7:15,22);
= tinh thần, tâm thần (ר֣וּחַ ruach) [bất định] (Sáng 41:8), tâm trí (tư tưởng, tình cảm), "lòng" (ר֣וּחַ ruach) [cay đắng] = "linh" [cay đắng] (Sáng 26:35). 
- Vì chữ "linh" (ר֫וּחַ ruach) là danh từ giống 'cái', cho nên "linh" gì cũng ví như là một 'mẹ đẻ' [Hễ chi sanh bởi "Linh" là "thần" ("Linh" đẻ ra "linh", "Tư tưởng" đẻ ra "tư tưởng"), hễ chi sanh bởi 'xác thịt' là 'xác thịt'] (Giăng 3:6):
 - "thần tính" (trí huệ, khôn ngoan) [Hãy truyền cho hết thảy kẻ thông minh, là người Ta đã ban đầy "linh tính" (ר֣וּחַ ruach) trí huệ, chế bộ áo cho A-rôn... Ta đã làm cho người đầy dẫy "Thần linh" (ר֫וּחַ ruach) của Thượng Đế, sự khôn ngoan, sự thông sáng, và sự hiểu biết để làm mọi thứ nghề thợ] (Xuât 28:3, 31:3).
 - "tinh thần" (tình nguyện), "có lòng" (sẵn sàng) [mọi người "có lòng" thành (vui lòng, sẵn lòng), đều đem lễ vật đến dâng cho Yêhva] (Xuất 35:21).

אֱלֹהִ֔ים (Elohim) h430 = Thượng Đế (dt đực s.nhiều) [Thiên Phụ]

מְרַחֶ֖פֶת (m'rachephet) [cứ] vận hành [như 'mẹ nuôi dạy'] đtt cái s.ít (= רָחַף rachaph: rung động) h7363 = ấp ủ; vỗ cánh, ran cánh, bay lượn, là là.
15. vận hành (רָחַף rachaph) đt h7363 x3 = rung động x1; ấp ủ; vỗ cánh, ran cánh, bay lượn, là là x1:
 = ấp chứng, túc con [Ta muốn nhóm họp con cái... như gà mái "túc và ấp" con mình dưới cánh, mà các ngươi chẳng khứnn!] (Mat 23:37, Luca 13:34), 
 = vỗ cánh, ran cánh, bay lượn, là là [đặng tập cho chim ưng con biết bay: như phụng hoàng (chim ưng) phấp phới dởn ổ mình, "bay lượn" (יְרַחֵ֑ף y'rachef, đtt cái) chung quanh con nhỏ mình, "sè cánh" ra xớt nó, và cõng nó trên chéo cánh mình thể nào, thì một mình Giê-hô-va đã dẫn dắt người thể ấy...] (Phục 32:11-23)

על־ (al-) ở trên gt h5921
פְּנֵ֥י (peni) nhiều mặt của dt đực s.nhiều (= פָּנִים panim: mặt) h6440 [ví 'những cái linh' (tâm thần, lý trí), là 'những phần trên (bề mặt) của tấm lòng']

הַמָּֽיִם׃ (h'mayim) các dòng nước [như 'nhiều cha'] mt+dt đực s.nhiều.
16. nước (מָ֫יִם mayim) dt g.đực h4325 x581 = nước x571, nước mưa x2, nước tiểu x2:5
= các dòng nước (המים h'mayim) dt g.đực s.nhiều (Sáng 1:2; Thi 77:16):
 - ví "nhiều sự dạy dỗ" trong "Lời Ngài" [Kinh Thánh Cữu và Tân Ước], và "nhiều lời giảng dạy" xưa và nay từ "các dòng đạo" khác nhau, tạc động trên "nhiều tấm lòng": - ví như 'nhiều thứ cha' -- "Ta sẽ làm sạch 'các dòng nước' Ê-díp-tô!" (Êxê 32:14),
 - ví "lòng người" ở trong tay Chúa khác nào "dòng nước" chảy [theo sự thiết kế của Ngài] (Châm 21:1).
= nước mưa (2Sa 21:10): ví "sự dạy dõ" đến từ Chúa;
= nước tiểu (2Vua 18:27, Êsai 36:12): ví 'lời dạy, triết lý, giáo điều, tục lệ truyền thống' ra từ con người!

Sáng 1:3-5 (Ngày 1 - Thời Kỳ 1: Hiệp Nhất Với Lời Trong Sự Soi Sáng)
3 Thượng Đế (Đấng Toàn Năng) kế đó phán rằng [như "tia sáng chớp, tiếng sấm sét"] : Phải có (phải trở thành) sự sáng [tiếng nói / Lời]; thì sau đó có (thế là có) sự sáng [tiếng nói / Lời].
4 Thượng Đế (Đấng Toàn Năng) sau khi thấy ([khải thị] cho thấy) sự sáng [tiếng nói / Lời] đó (thật là) tốt lành (đẹp đẽ), bèn phân tách (biệt riêng ra) ở trong (giữa vòng) sự sáng [kẻ thánh sạch] với giữa vòng [ra khỏi] sự tối tăm [vòng tội ác].
5 Thượng Đế (Đấng Toàn Năng) bèn đặt tên (gọi) cho sự sáng [là] Ngày (Thời Đại [Mới], nóng bỏng); và đặt tên (gọi) cho sự tối tăm (sự cầm giử lại: ví 'sự dót nát, thế giới đen tối độc ác') [là] Đêm (giới hoạt động ban đêm). Vậy thì có (là) buổi chiều (sự pha trộn, thủy triều) và lại có (là) buổi mai (sự tìm kiếm [niềm vui tươi sáng], cày ruộng); [ấy là] ngày (năm, đời, thời đại) thứ nhứt (số một, hiệp nhất).

Học Chữ Mới (trong Sáng 1:3-5)
Sáng 1:3
וַיֹּ֥אמֶר (way'omer) kế đó phán rằng kt+đt đực s.ít (= אָמַר amar: nói) h559
17. nói, phán (מָ֫יִם mayim) đt đực h559 x5308
= ý muốn, tư tưởng [tỏa sáng như tia chớp, vang tiếng như sấm sét]: Chúa đã [và sẽ] giết nhiều dân sư bởi "Lời Nói" -- sự phán xét như "Anh Sáng" [tia chớp] phát ra (Hos 6:5)!

אֱלֹהִ֖ים (Elohim) Thượng Đế dt đực s.nhiều h430
יְהִ֣י (ye-hi) phải có đt đực s.ít ml (= הָיָה hayah: có) h1961 = là, trở thành

א֑וֹר (our) sự sáng dt đực s.ít h216 [ví: tiếng nói / Lời]

18. anh sáng (אוֹר or) dt cái h216 x122 = sự sáng x100 (Sáng 1:3), ánh chớp x2 

[Danh từ cái "anh sáng" (אוֹר or h216) cùng gốc với dt đực "lửa" (אוּר ur, or h217) và đt "soi sáng" (Sáng 1:15), thắp lửa (Êsa 50:11) (אוֹר or h215): Phải có các vì sáng trên trời...để "soi" (אוֹר or h215) xuống đất, (Sáng 1:14-15); Yahveh là Ðấng có "lửa" (אוּר ur, or h217) tại Si-ôn, có lò tại Yêrusalem, (Êsai 31:9)]:

= ý muốn, tư tưởng [tỏa sáng như "tia chớp", vang tiếng như sấm sét]:

- Chúa đã [và sẽ] giết nhiều dân sư bởi "Lời Nói" -- sự phán xét như "Anh Sáng" [tia chớp] phát ra (Hos 6:5)!

- Thật dân Ta là "ngu muội", chúng nó chẳng nhìn biết Ta. Ấy là những con cái "khờ dại", không có trí khôn, khéo làm điều ác, mà không biết làm điều thiện... [như là] trời [chỗ ở/gia đình/HT của họ] không có "sự sáng" (Giê 4:22-23)!d


וַֽיְהִי־ (way'hi-) thì sàu đó có kt+đt đực s.ít (= הָיָה hayah: có) h1961 = là, trở thành
אֽוֹר׃ (our) sự sáng. dt đực s.ít h216 [tiếng nói / Lời]


Sáng 1:4
וַיַּ֧רְא (way'ar) kế đó thấy rằng kt+đt đực s.ít (= רָאָה raah: nhìn, thấy) h7200 = xem xét

19. thấy, nhìn, xem (רָאָה raah) đt h7200 x1306

= thấy x904 (Sáng 1:4), nhìn, xem x113; trông coi, coi chừng [nhà của ngươi] (1Vua 12:16);

= quan tâm, chú về [tội ác, thì Chúa chẳng nghe tôi CN] (Thi 66:18);

= dò xem [Ta sai họ đi "do thám" xứ] (Dân 32:8-9), xem xét x50 [Ta muốn ngự xuống, để "xem xét" chúng nó ăn ở có thật...chăng] (Sáng 18:21), [xin Yahveh "xem xét" và xử đoán] (Xuất 5:21), [Nguyện Ðức Yahveh "xem xét" và báo lại cho!] (2Sử 24:22);

= xem kỹ, xét duyệt, cân nhắc kỹ lại; suy nghĩ đền [Xin cũng hãy nghĩ rằng dân nầy là dân của Ngài!] (Xuất 33:13);

= thấy rõ, nhận thức, biết phân [Bấy giờ các ngươi sẽ trở lại và sẽ "phân biệt" giữa kẻ công bình và kẻ gian ác, giữa kẻ hầu việc Ðức Chúa Trời và kẻ không hầu việc Ngài] (Mal 3:18);

= lộ ra, hiện ra, hiện hình cho thấy x41 [đỉnh núi "lộ ra" sau trận lụt, Sáng 8:5; Yahveh "hiện ra" cùng Áp-ram] (Sáng 12:7);

= chỉ thị x19 [hay đi đến xứ mà Ta sẽ "chỉ" cho] (Sáng 12:1) -- [khải thị];

= sắm sẵn x5 [chính Thượng Đế "sẽ sắm sẵn lấy" chiên con... Yahveh-Dirê = Trên núi của Yahveh "sẽ có sắm sẵn"] (Sáng 22:8, 14);

= ra mắt [Yahveh] (1Sa 1:22), triều kiến, chầu bái, yết kiết (gặp vua) x14;

= mong đợi, tìm kiếm, lựa trọn [Bệ hạ khá "tìm chọn" một người thông minh trí-huệ, lập người lên làm đầu trong xứ Ê-díp-tô] (Sáng 41:33); [Ta "đã chọn" một người làm vua] (1Sa 16:1).


אֱלֹהִ֛ים (Elohim) Thượng Đế dt đực s.nhiều h430
אֶת־ (et-) sự mt (= אוֹת eith: cái) h853 = cái, đó, con, người, bậc, đấng
הָא֖וֹר (h'our) sự sáng dt đực s.ít (= אוֹר or: ánh sáng) h216: "tia sáng như chớp, tiếng vang như sấm sét" [tiếng nói / Lời, thánh sạch]


כִּי־ (ki-) ấy lt h3588 = thật là, như vậy.

20. ấy, đó, kia (בֵּ֥ין kiy) liên từ h3588 x4481 = vì x427, khi x245, tht là.


ט֑וֹב (toub) tốt lành, tt đực s.ít h2896 = đẹp lòng

21. tốt, lành (ט֑וֹב tob) tt, đt, dt đực/cái h2896 x562

= tốt lành x122, thiện x97 tốt x70, có phước (phước hạnh) x36, lợi ích x27, xinh đẹp x11 [dễ chịu, ấn tượng, thú vị] (tt);

= đồ tốt, người tốt (dt);

= làm việc tốt, giỏi, hay, khá, khỏe (pht).

= đẹp lòng, hày lòng (ưng), sung sướng (טוֹב tob h2895 đt) [vì chúng tôi thật "lấy làm sung sướng" (טוֹב tob) tại xứ Ê-díp-tô (Dân 11:18); Yahveh "ưng" (טוֹב tob) ban phước cho Ysơraên (Dân 24:1).]


וַיַּבְדֵּ֣ל (waya'bdel) bèn phân tách kt+đt đực s.ít (= בָּדַל badal: phân rẽ, phân biệt) h914
אֱלֹהִ֔ים (Elohim) Thượng Đế dt đực s.nhiều h430
בֵּ֥ין (ben) giữa gt h996 = ở trong, giữa vòng
הָא֖וֹר (h'our) sự sáng dt đực s.ít (= אוֹר or: ánh sáng) h216 [tiếng nói / Lời, thánh sạch]
וּבֵ֥ין (u'ben) và/với giữa lt+gt (= בֵּ֥ין ben: trong, giữa, vòng) h996
וחשׁך (h'choshek) sự tối tăm mt+dt đực s.ít (= חֹ֫שֶׁך choshek: đen tối) h2822 = sự cầm giử lại [của ma quỉ: ví 'sự dót nát, thế giới đen tối độc ác']

Sáng 1:5
וַיַּבְדֵּ֣ל (waiyi-kra, way'qra) bèn đặt tên cho kt+gt+đt đực s.ít (= קָרָא qara: gọi) h7121
אֱלֹהִ֤ים ׀ (Elohim) Thượng Đế dt đực s.nhiều h430
לָאוֹר֙ (l'our) cho sự sáng là gt+mt+dt đực s.ít (= אוֹר or: ánh sáng) h216
י֔וֹם (yom) Ngày dt đực s.ít h3117 = sanh nhật, tuổi, năm, cuộc đời, thời đại, nóng bỏng
וְלַחֹ֖שֶׁךְ (wel'choshech) và cho sự mờ tối lt+mt+dt đực s.ít (= חֹ֫שֶׁך choshek: mờ tối) h2822 = sự cầm giử lại [của ma quỉ: ví 'sự dót nát']
קָ֣רָא (qara) có cái tên là đt đực s.ít h7121 = gọi
לָ֑יְלָה (lailah, layelah, la-yil, lel) Đêm mt+dt đực s.ít h3915 = giới hoạt động ban đêm
וַֽיְהִי־ (way'hi-) Vậy thì có kt+đt đực s.ít (= הָיָה hayah: có) h1961
עֶ֥רֶב (ereb) buổi chiều dt đực s.ít h6153 = sự pha trộn, hoàng hôn, tia sáng rạng đông, thủy triều
וַֽיְהִי־ (way'hi-) và cũng có kt+đt đực s.ít (= הָיָה hayah: có) h1961
בֹ֖קֶר (voker = בֹּ֫קֶר boqer) buổi sáng dt đực s.ít h1242 = sự tìm kiếm, bình minh [ví: niềm vui tươi sáng], cày ruộng
י֥וֹם (yom) ngày dt đực s.ít h3117 = năm, đời, thời đại
אֶחָֽד׃ (echad) thứ nhứt. tt đực s.ít h259 = số một, hiệp nhất

Sáng 1:6-8 Ngày 2 - Thời Kỳ 2: Thành Đôi Với Thánh Linh Giữa Các Dòng Đạo 

6 Thượng Đế lại phán rằng (nói): Hãy xảy ra (có) một bầu trời [một bầu không khí (thuộc linh) như 'con dấu'] ở giữa các lớp nước [các dòng đạo], và đặng nó phân biệt những lớp nước [này] [các đạo này] với những lớp nước [kia] [cá đạo kia].
7 Ngài bèn làm nên (dự bị) một cái khoảng không (cái bầu không khi [thuộc linh], như một 'con dấu'), đặng phân biệt giữa những lớp nước ở dưới [đạo khiêm tốn] khoảng không với những lớp nước ở trên [đạo thăng hoa] khoảng không; thì có như vậy (trung thực, được dựng thẳng đứng).
8 Thượng Đế (Đấng Toàn Năng) bèn đặt tên (gọi) cho khoảng không (con dấu) [là] [2 Tầng] Trời (2 Nơi Ở). Vậy thì có (là) buổi chiều (sự pha trộn, thủy triều) và lại có (là) buổi mai (sự tìm kiếm [niềm vui tươi sáng, cày ruộng]); [ấy là] ngày (năm, đời, thời đại) thứ nhì (cả hai, thành đôi).


Học Chữ Mới (trong Sáng 1:6-8)

Sáng 1:6

וַיֹּ֣אמֶר (way'omer) lại phán rằng kt+đt đực s.ít (= אָמַר amar: nói) h559
אֱלֹהִ֔ים (Elohim) Thượng Đế dt đực s.nhiều h430
יְהִ֣י (ye-hi) Hãy xảy ra đt đực s.ít ml tình nguyện (= הָיָה hayah: có) h1961
רָקִ֖יעַ (raqia, rakia) một khoảng không dt đực s.ít h7549 = con dấu, bầu trời, không khí, phủ, trải)
בְּת֣וֹךְ (b'toch, b'touk) ở giữa gt+dt đực s.ít (= תָּ֫וֶך tavek: giữa) h8432
הַמָּ֑יִם (h'mayim) các lớp nước mt+dt đực s.nhiều (= מָ֫יִם mayim: nước) h4325
וִיהִ֣י (wi-hi) và đặng nó kt+đt đực s.ít (= הָיָה hayah: có) h1961 = để cho nó
מַבְדִּ֔יל (m'bdel) còn phân biệt đtt đực s.ít (= בָּדַל badal: phân rẽ) h914
בֵּ֥ין (ben) giữa gt h996 = ở trong, giữa vòng
מַ֖יִם (mayim) những lớp nước [này] dt đực s.nhiều h4325
לָמָֽיִם׃ (l'mayim) ra khỏi những lớp nước [kia]. gt+dt đực s.nhiều (= מָ֫יִם mayim: nước) h4325

Sáng 1:7
וַיַּ֣עַשׂ (waiya-as) bèn làm ra kt+đt đực s.ít (= עָשָׂה asah: làm ra) h6213 = dự bị
אֱלֹהִים֮ (Elohim) Thượng Đế dt đực s.nhiều h430
אֶת־ (et-) cái mt h853
הָרָקִיעַ֒ (h'raqia) một khoảng không dt đực s.ít (רָקִ֫יעַ = raqia, rakia) h7549 = con dấu
וַיַּבְדֵּ֗ל (waiya'bdel) mà phân biệtđtt đực s.ít (= בָּדַל badal: phân rẽ) h914
בֵּ֤ין (ben) giữa gt h996 = ở trong, giữa vòng
הַמַּ֙יִם֙ (h'mayim) các lớp nước mt+dt đực s.nhiều (= מָ֫יִם mayim: nước) h4325
אֲשֶׁר֙ (asher) những cái...mà đdt qh h834
מִתַּ֣חַת (mi-tachat) ở dưới gt+dt / trt (= תָּ֫חַת tachath: dưới) h8478 = khiêm tốn
לָרָקִ֔יעַ (l'raqia) khoảng không gt+dt đực s.ít (רָקִ֫יעַ = raqia, rakia) h7549
וּבֵ֣ין (u'ben) và giữa lt+gt (= בֵּ֥ין ben: giữa) h996
הַמַּ֔יִם (h'mayim) các lớp nước mt+dt đực s.nhiều (= מָ֫יִם mayim: nước) h4325
אֲשֶׁ֖ר (asher) những cái...mà đdt qh h834
מֵעַ֣ל (m'al) ở trên gt (עַל al: trên) h5921 = thăng lên [thăng hoa]
לָרָקִ֑יעַ (l'raqia) khoảng không; gt+dt đực s.ít (רָקִ֫יעַ = raqia, rakia) h7549
וַֽיְהִי־ (way'hi-) vậy thì có kt+đt đực s.ít (= הָיָה hayah: có) h1961
כֵֽן׃ (ken) nhữ vậy. trt h3651 = trung thực, được dựng thẳng đứng

Sáng 1:8
וַיִּקְרָ֧א (wayi'qra) bèn đặt tên cho kt+gt+đt đực s.ít (= קָרָא qara: gọi) h7121
אֱלֹהִ֛ים (Elohim) Thượng Đế dt đực s.nhiều h430
לָֽרָקִ֖יעַ (l'raqia) khoảng không gt+dt đực s.ít (רָקִ֫יעַ = raqia, rakia) h7549
שָׁמָ֑יִם (h'shamayim) hai tầng trời. bn dt đực s.đôi h8064 [2 không gian, 2 chỗ ở]
וַֽיְהִי־ (way'hi-) Vậy thì có kt+đt đực s.ít (= הָיָה hayah: có) h1961
עֶ֥רֶב (ereb) buổi chiều dt đực s.ít h6153 = sự pha trộn, hoàng hôn, tia sáng rạng đông, thủy triều
וַֽיְהִי־ (way'hi-) và cũng có kt+đt đực s.ít (= הָיָה hayah: có) h1961
בֹ֖קֶר (voker = בֹּ֫קֶר boqer) buổi sáng dt đực s.ít h1242 = sự tìm kiếm, bình minh [ví: niềm vui tươi sáng], cày ruộng
י֥וֹם (yom) ngày dt đực s.ít h3117 = năm, đời, thời đại
שֵׁנִֽי׃ (sheni) thứ nhì. tt đực s.ít 8145 = thành đôi, lệ thuộc [lẫn nhau]

Sáng 1:9-13 (Ngày 3 - Thời Kỳ 3) 

9 Thượng Đế lại phán rằng: Những nước ở dưới trời phải tụ lại một nơi, và phải có chỗ khô cạn bày ra; thì có như vậy.
10 Thượng Đế đặt tên chỗ khô cạn là đất, còn nơi nước tụ lại là biển. Thượng Đế thấy điều đó là tốt lành.
11 Thượng Đế lại phán rằng: Ðất phải sanh cây cỏ; cỏ kết hột giống, cây trái kết quả, tùy theo loại mà có hột giống trong mình trên đất; thì có như vậy.
12 Ðất sanh cây cỏ: cỏ kết hột tùy theo loại, cây kết quả có hột trong mình, tùy theo loại. Thượng Đế thấy điều đó là tốt lành.
13 Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ ba.

Học Chữ Mới (trong Sáng 1:9-13)

Sáng 1:9

Sáng 1:14-19 (Ngày 4 - Thời Kỳ 4)
14 Thượng Đế lại phán rằng: Phải có các vì sáng trong khoảng không trên trời, đặng phân biệt ngày với đêm, và dùng làm dấu để định thì tiết, ngày và năm;
15 lại dùng làm vì sáng trong khoảng không trên trời để soi xuống đất; thì có như vậy.
16 Thượng Đế làm nên hai vì sáng lớn; vì lớn hơn để cai trị ban ngày, vì nhỏ hơn để cai trị ban đêm; Ngài cũng làm các ngôi sao.
17 Thượng Đế đặt các vì đó trong khoảng không trên trời, đặng soi sáng đất,
18 đặng cai trị ban ngày và ban đêm, đặng phân biệt sự sáng với sự tối. Thượng Đế thấy điều đó là tốt lành.
19 Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ tư.

Học Chữ Mới (trong Sáng 1:14-19)

Sáng 1:14

Sáng 1:20-23 (Ngày 5 - Thời Kỳ 5)
20 Thượng Đế lại phán rằng: Nước phải sanh các vật sống cho nhiều, và các loài chim phải bay trên mặt đất trong khoảng không trên trời.
21 Thượng Đế dựng nên các loài cá lớn, các vật sống hay động nhờ nước mà sanh nhiều ra, tùy theo loại, và các loài chim hay bay, tùy theo loại. Thượng Đế thấy điều đó là tốt lành.
22 Thượng Đế ban phước cho các loài đó mà phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy dưới biển; còn các loài chim hãy sanh sản trên đất cho nhiều.
23 Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ năm.

Học Chữ Mới (trong Sáng 1:20-23)

Sáng 1:20

Sáng 1:24-25 (Ngày 6a - Thời Kỳ 6a: Làm Ra Thú Vật)
24 Thượng Đế lại phán rằng: Ðất phải sanh các vật sống tùy theo loại, tức súc vật, côn trùng, và thú rừng, đều tùy theo loại; thì có như vậy.
25 Thượng Đế làm nên các loài thú rừng tùy theo loại, súc vật tùy theo loại, và các côn trùng trên đất tùy theo loại, Thượng Đế thấy điều đó là tốt lành.

Học Chữ Mới (trong Sáng 1:24-25)

Sáng 1:24

Sáng 1:24-25 (Ngày 6b - Thời Kỳ 6b: Làm Ra Con Người)
26 Thượng Đế phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt đất, và khắp cả đất.
27 Thượng Đế dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Thượng Đế; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ.
28 Thượng Đế ban phước cho loài người và phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất.
29 Thượng Đế lại phán rằng: Nầy, ta sẽ ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất, và các loài cây sanh quả có hột giống; ấy sẽ là đồ ăn cho các ngươi.
30 Còn các loài thú ngoài đồng, các loài chim trên trời, và các động vật khác trên mặt đất, phàm giống nào có sự sống thì ta ban cho mọi thứ cỏ xanh đặng dùng làm đồ ăn; thì có như vậy.
31 Thượng Đế thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ sáu.

Học Chữ Mới (trong Sáng 1:26-31)

Sáng 1:26


Tối ngày Thứ Sáu, 19-07-2017 

Trả Lời Thắc Mắc: 1. Cách Tìm Hiểu Kinh Thánh, Ý Chúa và Lòng Người...?


A. Muốn hiểu "Lời (Ý) Chúa" qua "Kinh Thánh" thì phải hiểu "cách <chơi chữ> Hê-brơ" của Chúa trong KT Cựu Ước và "cách <chơi ý> Hê-brơ" của Chúa trong KT Tân Ước.

 -- Nhưng nếu một phe phái (như phe phái 'CƠ ĐỐC GIÁO BÍ TRUYỀN - Esoteric Christianity', phát sinh từ thế kỷ 2-3, hay một Mục Sư trong phe phái nào hiện thời mà còn chỉ thích giảng dạy qua các 'lời nói' (mà họ cho rằng rất 'triết lý' và 'huyền bí' trong KT), như chỉ thích trích dẫn nội trong các Sách Tin Lành hay Tân Ứơc mà thôi, mà lại cứ nhé tránh không giảng dạy qua mọi "từ ngữ" nguyên văn Hê-brơ (đều có song ý và linh ý) trong Cựu Ước, thì họ là 'giáo sư giả' vậy! Hiểu không?


B. Muốn hiểu "Lời (Ý) Chúa" qua "Thánh Linh" thì phải hiểu "cách <trồng / trường thành / sự dụng> 3 thứ cây thánh -- 3 <kiểu sống> đẹp lòng Chúa của 3 loại Thánh Đồ -- <Ô-liu (Sáng), Vả (Ngọt), Nho (Vui)>" trong KT Cựu Ước và Tân Ước.

 -- Dù 'tạm thời' Chúa chưa cho hay không cho có một ai [một GS, MS hay giáo phái] nào rất "Sáng" mà hiểu hết mọi "chữ, lời, ý" trong Kinh Thánh, nhưng nếu chúng ta chịu sống rất "Ngọt" và "Vui" trong Lời Chúa (qua lời văn tiếng Hê-brơ rất "binh dân", với các "thành ngữ / chơi chữ" rất "dễ hiểu" trong thời ấy) và biết cách "sống chung hòa bình" với mọi Thánh Đồ trong Nước Nhà của Ngài cùng với các 'giáo dân' và 'công dân' khác ngoài xã hội, thì chúng ta mới có tư cách được Chúa và họ cữ ra làm 'vua' -- "người chăn bày" vậy (Các Quan Xét 9:8-13)! Hiểu chưa?

 -- Bởi vậy, nếu có một vị Sứ Đồ - Giáo Sĩ, Tiên Tri - Thầy Giảng, Giáo Sư hay giáo phái nào cho rằng họ là 'đúng hết' hay 'vô ngộ', nhưng lại "không có sự 'Khôn Sáng và Ngọt - Vui' trong LỜI và ĐỜI", thì là 'SĐ, TT, GS giả' vậy! Hiểu không?


C. Muốn hiểu "lòng" (ý) con người để 'giành' được người về với Chúa nhiếu hơn và kỹ hơn, thì phải hiểu "tánh" (sở thích) con người nào muốn theo 'Đạo' qua 'dấu kỳ - phép lạ' hay qua 'trí thức - triết lý', hay qua "Sự Khải Thi - Chân Lý - Tái Sánh"? Nhưng vì phần đông người muốn theo Đạo chỉ có 2 loạn mà thôi:

 1) "Ngưới Do-thái" -- là kẻ có bối cảnh Kinh Thánh và 'truyền thông', thích 'dấu kỳ - phép lạ', theo thuyết "Độc Thần" hay 'Một Ngôi' và thích giữ 'thuần giống, nguyên chủng'...

 2) "Ngưới Ngoại Bang" -- là kẻ không có bối cảnh Kinh Thánh, nhưng có bối cảnh 'thần thoại' (huyền bí, bí truyền) và 'triết lý', thích 'trí thức - khôn ngoạn - triết lý - biện luận', theo thuyết 'đa thần' và 'đa nguyên' và thích sống 'pha giống'...

- Bởi vậy, cho dù mình hay phe nào chịu 'ăn nói' như họ cũng chỉ có thể 'giành lấy' (cứu giúp) được họ (1Cô 9:20) vào một 'giáo lý' hay 'giáo phái Tín Lành' (tổ chức) nào đó vậy thôi! 

- Vì rốt cuộc chỉ có rất ít 'người sùng đạo' chịu cho Chúa Thánh Linh "dẫn dắt" họ vào mọi "Chân Lý" mà được "tái sanh" vào sống được trong "Nhà (Thân thể thuộc linh) Ngài"!


  Cho nên, dù tôi cố gắng tự học cách chỉ giải kinh theo xác "nguyên văn - linh ý" là an toàn hơn, nhưng vẫn không thể hiểu hết mọi "nghĩa đen" và "nghĩa bóng" từng từ ngữ hay mọi câu nói tiếng Hê-brơ trong KT, và sẽ không có thể thỏa mản giải đáp mọi thắc mắc của Hảo; cho nên tôi không muốn tốn thì giời tham khảo, trưng dẫn hay giải đáp thắc mắc trong các sách vỡ 'học thuyết - triết lý - thấn học - bí pháp' gì của ai. 

  Nhưng trong trường hợp nếu Hảo có thắc mắc trong những Bài Giảng hay cuốn sách rất hay nào, thì nên hỏi rõ từng điểm thắc mắc trong trang - đoạn - câu số mấy để tiện việc tôi tra lời cho vậy nhé! (Chư tôi không muốn tốn thì giời tham khảo cả cuốn sách "Huyền Bí" gì của ai cả...)

- Nguyên xin chúng ta hay dành nhiều thì giờ hơn để học hỏi Kinh Thánh theo nguyên ý Hê-brơ:



 Trả Lời Thắc Mắc: 2. Loài Người Mang Hình Ảnh Thượng Đế...?


1) HỎI: Trong Sáng 1:26-28 Chúa tạo dựng loài người theo hình ảnh Ngài là Thần Linh hay cả Xác thịt?

* TRẢ LỜI:

- Vì "Thượng Đế" là một "Thần Linh" (Giăng 4:24; và Thiên sứ, ma qui cũng là một 'thần linh', không có 'thân xác'), nhưng thường hay "hiên hình" thành một "Con Người" (đôi khi "Thần Linh" của Chúa hay "thần lình" của Thiên sứ hay ma quỷ cũng hiện hình thành một 'con thú') có "xác thịt". 

- Và chữ "hình ảnh" (x12, "tselem") = "hình tượng, thần tượng" (x3), cũng có nghĩa là "quái tượng, ma, ảo ành" hày "sự giống nhau, tiêu biểu, đại diện".

- Và vỉ Chúa làm ra (hay sanh ra) "con người" có một "tinh thần" (có "hình ảnh" của Thượng Đế) nhưng phải bị hạn chế chỉ sống trong một "thân hình" có cái "mặt muổi" giống như Chúa (có "sự giống nháu" về "tâm" và "tướng" tốt đẹp như Thượng Đế, để có tư cách "đại diện" Ngài mà quản lý trời đất dùm Ngài.


2) HỎI: Trong Sáng 9:4-6, Chúa bảo con nguời không được ăn thịt còn máu... vì loài người được tạo dựng theo hình ảnh Ngài? Vậy Chúa có máu như loài người?

* TRẢ LỜI:

- Vì chữ "máu" ("dam", giống chữ "adam") có nghĩa là "sữ giống nhau" và Kinh Thánh kể "máu" là "sự giống như, tượng trưng", là "sự sống, sinh mạng".

- Và vì nếu ài phạm tội "đổ máu" thì Chúa "sẽ đòi máu của sự sống người đó lại!" (Sáng 9:5), cho nên Ngài cấm chúng ta "ăn thịt còn máu", ví nó tượng trưng cho sự "giết người có sự sống"! Và vì việc "ăn thịt còn máu" hay ăn thịt chưa nấu chịn là một việc rất "mất vệ sinh" vì rất đọc hại cho thân thể (Sáng 9:4)! Chứ đoạn KT này không có ý ấm chỉ 'Chúa có máu như loài người'.


3) HỎI: Trong Gia-cơ 3:9 "Bởi cái lưỡi chúng ta khen ngợi Chúa, Cha chúng ta, và cũng bởi nó chúng ta rủa sả loài người, là loài tạo theo hình ảnh Đức Chúa Trời." Giống như câu hỏi 2!

* TRẢ LỜI: 

- Vì chữ "barak" (H1288) trong tiếng Hê-brơ có nghĩa là "khen ngợi" Đấng Tạo Hóa, "chúc phước" hay "rủa sả" con người nào đó. Cho nên chúng ta phải biết ơn Chúa mà "khen ngợi" (có nghĩa là "thưởng thích") và "chúc phước" loài người (là tạo vật cao cấp nhất của Chúa), chứ không được phép "rủa sả" (có nghĩa là "cay đắng, phỉ báng") ai cả!

- Và vì cả loài người họ là 'giáo dân' (dù khác tôn giáo) đều có chúng một vị "Chúa" (Vua Chí Cao) ở trên trời, và vì mọi Thánh đồ và 'môn đồ' (có nghĩa là 'học trò') chúng ta (dù khác giáo phái) đều là 'con nuôi' hay "con đẻ" ra từ cùng một "Cha" ('Cha nuôi' hay "Cha Đẻ") ở trên trời, cho nên không ai được phép rủa sả ai, mà chỉ nên cầu thay và chúc phước cho họ mà thôi vậy nhé! 

- Cũng vì vậy, mà khi mình đối diện một "con người bề ngoái" có một 'tâm' (thấn linh, "spirit", tâm trí) và 'tướng' có xấu hay ác như 'quỷ' gì đi nữa, nhưng vì Chúa đã dựng nên (thiết kế) y có một "con người bền trong" (thâm tâm) có một cái "hồn" ("soul"), từ lục ban đầu vốn có "lương tâm, lương tri" (có cái hình ảnh, ban tính) giống như Đấng Tạo Hóa vậy, thì mình cũng không được phép rủa sả y, mà chỉ có thể cầu thay và chúc phước cho y mà thôi vậy nhé! 


4) HỎI: Chúa Giê-su là hình ảnh của ĐCT không thấy được (Colose 1:15), vậy loài nguời giống Chúa Giê-su là hình ảnh ĐCT không thấy được?

* TRẢ LỜI: 

- Vì Ngài (Jêsus) là "hình ảnh" (cả "tâm" và "tướng") của "Thượng Đế không thấy được".

- Và vì Chúa Jêsus (là Anh Cả) được "sanh ra" làm "Con Đầu Lòng" (Vĩ Đại) và chúng ta (là đàn em) được "tái sánh" (được dựng nên) làm "con cái" (nhỏ mọn) của cùng chung một vị "Cha Trên Trời": 

- Cho nên chỉ có Thánh Đồ "Anh em cùng Cha cùng mẹ" (có cùng "Tâm Tình" với Thánh Linh và chịu cùng "Giáo Hóa" từ Thánh Linh) mới có cái "nội tâm" (hồn) và "ngoại tướng" (lối sống) rất giồng nhau như "Anh em ruột" vậy mà thôi!

- Chứ các dân tộc ngoại giáo hay các giáo dân phe phái (chưa được "tái sanh" và "Giáo Hóa" của Thánh Linh) thì dù họ đã "theo Đạo" (đã "gia nhập Giáo hội) thì cái "ngoại tâm" (linh) và "ngoại tướng" (kiểu ăn mặc và lễ nghi) của họ cũng chỉ hơi lơi giồng 'con nuối' của Chúa vậy mà thối!


Anh Timothy Tuấn Mã

1) HỎI: Trong Sáng 1:26-28 Chúa tạo dựng loài người theo hình ảnh Ngài là Thần Linh hay cả Xác thịt?

* TRẢ LỜI:

- Vì "Thượng Đế" là một "Thần Linh" (Giăng 4:24; và Thiên sứ, ma qui cũng là một 'thần linh', không có 'thân xác'), nhưng thường hay "hiên hình" thành một "Con Người" (đôi khi "Thần Linh" của Chúa hay "thần lình" của Thiên sứ hay ma quỷ cũng hiện hình thành một 'con thú') có "xác thịt". 

- Và chữ "hình ảnh" (x12, "tselem") = "hình tượng, thần tượng" (x3), cũng có nghĩa là "quái tượng, ma, ảo ành" hày "sự giống nhau, tiêu biểu, đại diện".

- Và vỉ Chúa làm ra (hay sanh ra) "con người" có một "tinh thần" (có "hình ảnh" của Thượng Đế) nhưng phải bị hạn chế chỉ sống trong một "thân hình" có cái "mặt muổi" giống như Chúa (có "sự giống nháu" về "tâm" và "tướng" tốt đẹp như Thượng Đế, để có tư cách "đại diện" Ngài mà quản lý trời đất dùm Ngài.


2) HỎI: Trong Sáng 9:4-6, Chúa bảo con nguời không được ăn thịt còn máu... vì loài người được tạo dựng theo hình ảnh Ngài? Vậy Chúa có máu như loài người?

* TRẢ LỜI:

- Vì chữ "máu" ("dam", giống chữ "adam") có nghĩa là "sữ giống nhau" và Kinh Thánh kể "máu" là "sự giống như, tượng trưng", là "sự sống, sinh mạng".

- Và vì nếu ài phạm tội "đổ máu" thì Chúa "sẽ đòi máu của sự sống người đó lại!" (Sáng 9:5), cho nên Ngài cấm chúng ta "ăn thịt còn máu", ví nó tượng trưng cho sự "giết người có sự sống"! Và vì việc "ăn thịt còn máu" hay ăn thịt chưa nấu chịn là một việc rất "mất vệ sinh" vì rất đọc hại cho thân thể (Sáng 9:4)! Chứ đoạn KT này không có ý ấm chỉ 'Chúa có máu như loài người'.


3) HỎI: Trong Gia-cơ 3:9 "Bởi cái lưỡi chúng ta khen ngợi Chúa, Cha chúng ta, và cũng bởi nó chúng ta rủa sả loài người, là loài tạo theo hình ảnh Đức Chúa Trời." Giống như câu hỏi 2!

* TRẢ LỜI: 

- Vì chữ "barak" (H1288) trong tiếng Hê-brơ có nghĩa là "khen ngợi" Đấng Tạo Hóa, "chúc phước" hay "rủa sả" con người nào đó. Cho nên chúng ta phải biết ơn Chúa mà "khen ngợi" (có nghĩa là "thưởng thích") và "chúc phước" loài người (là tạo vật cao cấp nhất của Chúa), chứ không được phép "rủa sả" (có nghĩa là "cay đắng, phỉ báng") ai cả!

- Và vì cả loài người họ là 'giáo dân' (dù khác tôn giáo) đều có chúng một vị "Chúa" (Vua Chí Cao) ở trên trời, và vì mọi Thánh đồ và 'môn đồ' (có nghĩa là 'học trò') chúng ta (dù khác giáo phái) đều là 'con nuôi' hay "con đẻ" ra từ cùng một "Cha" ('Cha nuôi' hay "Cha Đẻ") ở trên trời, cho nên không ai được phép rủa sả ai, mà chỉ nên cầu thay và chúc phước cho họ mà thôi vậy nhé! 

- Cũng vì vậy, mà khi mình đối diện một "con người bề ngoái" có một 'tâm' (thấn linh, "spirit", tâm trí) và 'tướng' có xấu hay ác như 'quỷ' gì đi nữa, nhưng vì Chúa đã dựng nên (thiết kế) y có một "con người bền trong" (thâm tâm) có một cái "hồn" ("soul"), từ lục ban đầu vốn có "lương tâm, lương tri" (có cái hình ảnh, ban tính) giống như Đấng Tạo Hóa vậy, thì mình cũng không được phép rủa sả y, mà chỉ có thể cầu thay và chúc phước cho y mà thôi vậy nhé! 


4) HỎI: Chúa Giê-su là hình ảnh của ĐCT không thấy được (Colose 1:15), vậy loài nguời giống Chúa Giê-su là hình ảnh ĐCT không thấy được?

* TRẢ LỜI: 

- Vì Ngài (Jêsus) là "hình ảnh" (cả "tâm" và "tướng") của "Thượng Đế không thấy được".

- Và vì Chúa Jêsus (là Anh Cả) được "sanh ra" làm "Con Đầu Lòng" (Vĩ Đại) và chúng ta (là đàn em) được "tái sánh" (được dựng nên) làm "con cái" (nhỏ mọn) của cùng chung một vị "Cha Trên Trời": 

- Cho nên chỉ có Thánh Đồ "Anh em cùng Cha cùng mẹ" (có cùng "Tâm Tình" với Thánh Linh và chịu cùng "Giáo Hóa" từ Thánh Linh) mới có cái "nội tâm" (hồn) và "ngoại tướng" (lối sống) rất giồng nhau như "Anh em ruột" vậy mà thôi!

- Chứ các dân tộc ngoại giáo hay các giáo dân phe phái (chưa được "tái sanh" và "Giáo Hóa" của Thánh Linh) thì dù họ đã "theo Đạo" (đã "gia nhập Giáo hội) thì cái "ngoại tâm" (linh) và "ngoại tướng" (kiểu ăn mặc và lễ nghi) của họ cũng chỉ có phần nào hơi hơi giồng 'con nuối' của Chúa vậy mà thối!


-- Anh Tuấn Mã (Bro. Timothy Ma)

___________________________________________________


Sáng ngày Thư Tư 19-07-2017 


LỜI KHUYÊN: Đng Phm "Ti Chính Tr Thuc Linh"


  Nguyện xin các Thánh đồ đừng phạm "tội chính trị thuộc linh":

 - Đừng theo một vị 'vua' [Mục Sự] nào khác ngoài Chúa JHV / JS / Thánh Linh!

- Cũng đừng thích được tôn xưng làm 'vua' [Mục Sự] tại một địa phương [giáo hội] nào! mà ch cần trung tín làm v "Công chc" hiếu hin [Trưởng Lo (giảng dạy) hay Chấp S (phc v)].

 -- để tránh bản thân hay người nhà sẽ phải 'chết sớm' -- để tránh bị phạt có nạn hay bị ung thư...

 -- Y như "ý nghĩa" cái tên của bà Na-ô-mi (tuy vốn có nghĩa là "ngọt ngào" [hạnh phúc], nhưng ký thật cuộc đời [GĐ hay HT] sẽ phải sống ngược lại rất là "đau khổ" [đắn cay]!) 

 -- Và ý như cái tên chồng là "Ê-li-mê-léc" (tuy vốn có nghĩa là "Thượng Đế của [là] Vua"), những khi giải kinh theo kiểu 'chơi chữ' thì 'nghĩa ngược' của tên người 'chồng' [ví có một cái 'thần linh'] là thích làm "Vua [Mục Sư] (trong Nước Nhà / HT) của Thượng Đế", thì bản thân và con cái sẽ chết sớm vậy đó  nhé...! (Ru-tơ 1:2-5)

TTM.

_________________________________


Sáng ngày Thư Tư 28-06-2017

Subject: Trả lời về cách xử dụng từ ngữ xưng hô đúng với Kinh Thánh


Chào anh chị em,


* Tôi xin trả lời về cách xử dụng từ ngữ xưng hô đúng với Kinh Thánh dạy như sau:


- Tuy Kinh Thánh dạy rằng Thượng Đế vừa là "Một Thần Linh Lớn Nhất và Huy Nhất",

  nhưng Ngài vừa lại là Đấng có "7 Mắt = 7 Thần-Linh" (Khải 5:6) và vừa lại có "3 Danh Xưng" -- "Cha, Con và Thánh Linh" trong Tân Ước -- cho nên Chúa dạy chúng ta phải xưng hô Ngài như sau trong Tân Ước:

  - [a] (Chỉ có thể) Lại "Cha chúng con ở Trên Trời" (là Thượng Đế, là Một Thần Linh Chí Thánh Duy Nhất, là Một Đấng Chí Cao, không ai có thể nhìn thấy tận mặt của Ngài) -- như bản thân "Mặt Trời" ở nới rất xa, không ai có thể đến gần!

  - [b] (Nhưng có thể) Xin "Chúa Jâsus" (là Một Con Trời cũng là Một Con Người, có Một Linh Thể có thề nhìn thấy) ngự vào lòng mình -- như hễ ai chịu mở "cửa long", thì sẽ nhìn thấy và nhận được "Ánh Sáng Mặt Trời" vào ngự trong phòng của lòng mình vây!

  -  [c] (Và phải) Xin cảm nhận và chịu sống trong sự cảm thông của "Chúa Thánh Linh" (là "Đấng Yên Ủy", là "Thần Khôn Ngoan", mắt người không nhìn thấy) -- như cảm nhận được "Sức Nóng / Năng Lượng" (mắt người không nhìn thấy phát ra từ Mặt Trời) trong đời mình vây!


- Tuy Kinh Thánh dạy rằng chúng ta chỉ có "Một Thượng Đế" (One God), "Một Chúa / Chủ" (One Lord / Master) Huy Nhất (Ê-phê-sô 4:5-6), nhưng Ngài lại có "5 xưng hô" trong Cựu Ước (Ê-sai 9:5/6) mà mình phải tuyên xưng Ngài ra là:

  - [1] "Ðấng Lạ-Lùng /  Đấng đầy Phép-Lạ / Đấng Kỳ Diệu", [2] "Ðấng Mưu-Luận /  Thần Khôn-Ngoan"  (--Thánh Linh), 

  - [3] "Thượng Đế Quyền Năng", [4] "Cha-Đời-Đời" (--Cha), 

  - [5] "Chúa-Bình-An / Thái-Tử Hòa-Bình" (--Con)!

  

- Tuy KT bảo rằng chỉ có "Một Chúa, Một Thượng Đế" (One Lord, One God), nhưng mình vẫn phải gọi "Cha Trên Trời" và "Thánh Linh trong lòng" mình là "Chúa tôi" (my Lord, số ít) vậy! -- Y như khi Thượng Đế hiện hình thành 2-3 Người đến thăm Ap-bra-ham, thi Ap-bra-ham cũng chỉ có thể gọi "họ" là "Chúa tôi" (my Lord, số ít) vậy! Cho nên khi dịch thuật thì không nên thêm bớt chữ xưng hô "Chúa" trưóc chữ "Cha, Con, Thánh Linh" là đúng! Nhưng khi nói chuyện thì có ai thêm cái xưng hô "Chúa" trước chữ "Cha" hay "Con" hay "Thánh Linh", thì không nên bị ai "lên án" vậy!


- Cũng vậy, tuy KT có dạy mình không nên gọi (không nên chịu chấp nhận bị nô dịch bởi) một vị "lảnh đạo tôn giáo" nào là "Cha" (Linh Mục) hay "Thầy" (Giáo sư, Mục-Sư Truyền-Đạo) của mình, nhưng KT vẫn cho phép mình gọi "thân sinh" mình là "Cha" và gọi "Thầy Cô" trong Trường là "Thầy" vậy... mà cũng không nên bị ai "lên án" vậy nhé! Thế nhưng tốt hơn hết là chúng ta nên xương hô các vị "tiền bối" trong Hội Thánh là "Anh" là ổn nhất, thay vì gọi họ là "Thầy / Giáo sư" (hay "Mục Sư")  vậy nhé!


* Sau đây là cách dùng từ xưng hô chính xác hơn (thay vì dùng từ thêm bớt của Công giáo và các giáo phái):

- Nên dùng từ "Cha, Con, Thánh Linh" (chứ đừng dùng từ "Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Linh");

- Nên dùng từ "Thượng Đế" hay "Chúa Trời" [nguyên văn là "Ê-lô-him" = "Thần", "Đấng Quyền Năng", "Chúa Toàn Năng"]  (chứ đừng dùng từ "Đức Chúa Trời", "Đức Thánh Cha", "Đức Cha" hay "Thiên Chúa");

- Nên dùng phức từ "Chúa Giê-hô-va" [nguyên văn là "YHWH" = "Đấng Ta Là" (Đấng Tự Hữu, Hằng Hữu)] (chứ đừng dùng từ "Đức Giê-hô-va" hay đơn từ "Giê-hô-va" hay "Yah-weh" cộc lốc rất bất kính).

- Nên dùng phức từ "Chúa Jêsus" (chứ đừng dùng đơn từ "Jesus" hay "Giê-xu" cộc lốc rất bất kính).


* Vì chữ "thần" (spirit), "ma / quỉ" (ghost), "linh" (spirit), "thần linh" (spirit), "tinh thần" (spirit) đều là cùng một chữ (Hê-brơ) trong Kinh Thánh cả; 

  Và chữ "Sứ giả" (Messenger), "người đưa tin" (messenger), "Thiên sứ" (Angel), "quỉ sứ" (angel or devil) cũng đều là cùng một chữ (Hê-brơ) trong KT cả! 

  -- Cho nên chúng ta vẫn có thể dùng những từ thông dụng ở ngoài đời như sàu: 

- "tử thần" (god of death) = "sứ giả sự chết" (death angel) = "thần linh hay thiên sứ bắt giữ con người xuống dưới âm phủ);

- Và nếu có ai bị "quỉ ám" hay bị "ma nhp" thì mình có thể nói là người đó đã từng mở lòng rướt nhầm "thiên sứ xấu" ('công an chìm' thuộc linh rất xấu) = "quỉ sứ", có một "tinh thần bất chính", khiến đầu ốc, tánh nét và cả cuc đời của con người đó "loạn" lên...!

- Bỏi vy chúng ta nên dùng từ "Thánh Linh" (Holy Spirit), chứ đừng dùng từ "Thánh Thần" (Holy Ghost) như trong KT Công giáo hay trong bản dịch King James... vậy nhé!


-- Anh Tuấn Mã (Bro. Timothy Ma)

___________________________________________________

Download:

___________________________________________________

 For more info or feedback please email to <[email protected]>

 Mọi thắc mắc và ý kiến thêm bớt hay đính chính nội dung xin email đến
    <[email protected]>

Members Area